
Bệnh tay chân miệng (TCM) hiện nay là bệnh rất dễ mắc nhất là trẻ dưới 3 tuổi, gây nhiều tác hại đến đến sức khỏe của trẻ, nhất là những trường hợp mắc bệnh TCM do virút EV71. Một trong những thắc mắc mà phụ huynh cũng rất quan tâm đó là trẻ đã bị mắc bệnh TCM rồi có bị tái nhiễm nữa không? Những lần mắc bệnh sau có nghiêm trọng hơn lần trước không?
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây bệnh TCM là do Enterovirus (nhóm virut đường ruột) gây ra, thường gặp nhất là chủng virut Coxsackie A16. Trong những năm gần đây, ở khu vực Đông Nam châu Á, trong đó có Việt Nam, xuất hiện những vụ dịch bệnh TCM do Enterovirus týp 71 (EV71) gây nên. Khác với các chủng Coxsackie cổ điển, chủng Enterovirus týp 71 có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như viêm não, màng não, viêm cơ tim, viêm phổi và có thể dẫn đến tử vong. Năm nay, qua một trường hợp trẻ nhỏ 4 tháng tuổi tử vong do bệnh TCM chưa đầy một ngày sau khi bị bệnh ở An Giang (26/2) cho thấy, chủng virut EV 71 gây bệnh có độc tính rất cao.Biểu hiện của bệnh
Biểu hiện sớm nhất của bệnhlà mệt mỏi, sốt nhẹ (38 - 38,5oC), có trường hợp sốt cao hơn, đau họng, sổ mũi tương tự như viêm hô hấp trên. Đôi khi trẻ có nôn mửa, rất mệt, quấy khóc. Các biểu hiện này diễn ra chỉ trong vài ba ngày rồi chuyển sang giai đoạn toàn phát. Đầu tiên là sự xuất hiện các mụn nước ở niêm mạc miệng, thường là ở mặt trong má, lợi, mặt bên của lưỡi. Các mụn nước có kích thước nhỏ khoảng vài ba milimét nằm trên một nền niêm mạc viêm đỏ. Các mụn nước trong miệng nhanh chóng bị vỡ và tạo ra các vết loét gây đau đớn cho trẻ nhất là khi ăn, uống, nuốt nước bọt. Các mụn nước, bọng nước màu xám, hình bầu dục cũng có thể xuất hiện ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông của trẻ. Các mụn nước, bọng nước tồn tại khoảng từ 1 - 2 tuần, ít gây đau và tự khỏi.

Bệnh lây cho trẻ em lành khác (nếu trẻ đó chưa có miễn dịch) qua đường hô hấp (trực tiếp qua hơi thở, các giọt nước bọt bắn ra khi ho, nói, cười, hắt hơi). Và bệnh cũng có khả năng lây lan qua dụng cụ đồ chơi, dụng cụ ăn uống bị nhiễm virut EV71. Virut EV71 cũng có khả năng đào thải qua phân trong vòng vài tuần sau, từ phân virut lây theo đường thức ăn, nước uống, dụng cụ đồ chơi. Sau khi khỏi bệnh, cơ thể bệnh nhân có miễn dịch với chủng virut gây bệnh, nhưng một trẻ có thể bị bệnh TCM nhiều lần nếu lần sau bị nhiễm các chủng virut khác với lần trước. Bệnh có loại biểu hiện không điển hình như bọng nước rất ít, xen kẽ với những nốt hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện bọng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần. Đặc biệt là một số trường hợp bệnh không điển hình, chỉ loét miệng rất dễ nhầm với loét miệng do nhiệt hoặc do Herpes. Và bệnh cũng có thể nhầm với bệnh thủy đậu, viêm da có mủ, nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu, sốt xuất huyết Dengue, sốt phát ban, dị ứng da. Đáng lo ngại nhất của bệnh TCM là biến chứng có thể xảy ra như viêm màng não - não (gây liệt kiểu bại liệt), viêm cơ tim cấp, viêm phổi, phù phổi và có thể tử vong.


Biến chứng
Biến chứng thần kinh: Viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng não biểu hiện: Rung giật cơ từng cơn ngắn 1 - 2 giây, chủ yếu ở tay và chân, dễ xuất hiện khi bắt đầu giấc ngủ hay khi cho trẻ nằm ngửa. Trẻ ngủ gà, bứt rứt, chới với, đi loạng choạng, run chi, mắt nhìn ngược, rung giật nhãn cầu, yếu, liệt chi (liệt mềm cấp). Có thể có liệt dây thần kinh sọ não dẫn đến điếc, giảm thị lực, liệt mặt...Trường hợp có co giật, hôn mê là dấu hiệu nặng, thường đi kèm với suy hô hấp, tuần hoàn, biểu hiện tăng trương lực cơ (biểu hiện duỗi cứng mất não, gồng cứng mất vỏ) cũng là một triệu chứng tiên lượng xấu.
Biến chứng tim mạch, hô hấp: Viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch biểu hiện mạch nhanh trên 150 lần/phút, đầu chi tím, lạnh, da nổi vân tím, vã mồ hôi. Các biểu hiện rối loạn vận mạch có thể chỉ khu trú ở một vùng cơ thể (một tay, một chân,...). Giai đoạn đầu có huyết áp tăng, giai đoạn sau mạch, huyết áp không đo được. Suy hô hấp biểu hiện: trẻ khó thở, thở nhanh, rút lõm ngực, khò khè, thở rít thanh quản, thở nông, thở bụng, thở không đều. Nặng hơn là phù phổi cấp: sùi bọt hồng qua miệng, mũi, khó thở, tím tái, phổi nhiều ran ẩm, nội khí quản có máu hay bọt hồng.
Điều trị
Nguyên tắc điều trị:
- Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm).
- Theo dõi sát, phát hiện sớm và điều trị biến chứng.
- Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng.
Điều trị cụ thể:
Mức độ nhẹ: trẻ chỉ có loét miệng và hoặc có tổn thương da, có thể điều trị ngoại trú hoặc theo dõi tại y tế cơ sở. Cần chú ý dinh dưỡng đầy đủ theo tuổi, trẻ còn bú cần tiếp tục cho ăn sữa mẹ. Hạ sốt khi sốt cao bằng paracetamol, vệ sinh răng miệng, nghỉ ngơi, tránh kích thích. Cho trẻ tái khám mỗi 1-2 ngày trong 8-10 ngày đầu của bệnh. Trẻ có sốt phải tái khám mỗi ngày cho đến khi hết sốt ít nhất 48 giờ.
Cần tái khám ngay khi có dấu hiệu như: Sốt cao từ 39oC, thở nhanh, cơ hô hấp (cơ gian sườn, hõm trên ức, bụng) co rút mạnh, giật mình, lừ đừ, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ, nôn nhiều, đi loạng choạng, da nổi vân tím, vã mồ hôi, tay chân lạnh, co giật, hôn mê...
Những trường hợp nặng như trẻ bị biến chứng tim mạch, suy hô hấp, viêm não, màng não... phải được điều trị tại các khoa hồi sức tích cực của bệnh viện chuyên khoa.
Hỗ trợ hô hấp: thở oxy qua mũi, đặt nội khí quản giúp thở sớm khi thất bại với thở oxy. Chống phù não: nằm đầu cao 30°, hạn chế dịch, thở máy tăng thông khí.
Hỗ trợ tuần hoàn: Dobutamin được chỉ định khi suy tim, mạch trên 170 lần/phút và dùng cho đến khi có cải thiện lâm sàng, milrinone truyền tĩnh mạch chỉ dùng khi huyết áp cao, điều chỉnh rối loạn nước, điện giải, toan kiềm, điều trị hạ đường huyết. Hạ sốt tích cực, điều trị co giật nếu có bằng midazolam hoặc diazepam, phenobarbital. Trường hợp nặng phải dùng immunoglobulin (gammaglobulin) nếu huyết áp trung bình từ 50mmHg trở lên.
Lọc máu liên tục (nếu có điều kiện).
Kháng sinh: Chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm hoặc chưa loại trừ các bệnh nhiễm khuẩn nặng khác.
Phòng bệnh
Hiện bệnh chưa có vaccin nên phòng bệnh chủ yếu vẫn là các biện pháp phòng bệnh không đặc hiệu:
- Vệ sinh cá nhân: Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em), chú ý trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ.
- Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà, các bề mặt như tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn, ghế bằng dung dịch khử khuẩn Cloramin B 2%, xà phòng hay chất tẩy rửa thông thường khác.
- Cách ly trẻ bệnh tại nhà. Không đến nhà trẻ, trường học, nơi các trẻ chơi tập trung trong 10 - 14 ngày đầu của bệnh, phát hiện sớm trường hợp trẻ bị bệnh để điều trị sớm cũng như cách ly kịp thời, tránh lây lan.
- Quản lý phân: Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân, chất thải của trẻ phải được thu gom, xử lý và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét